NỘI DUNG TUYÊN TRUYỀN
CÁCH PHÒNG TRÁNH VÀ XỬ TRÍ BAN ĐẦU MỘT SỐ TAI NẠN
THƯỜNG GẶP VỚI TRẺ MẦM NON
Bước vào năm học mới 2024-2025. Trường Mầm non Ngũ Phúc huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng được đón nhận các bé từ 18 đến 72 tháng tuổi, theo kế hoạch tuyển sinh năm học 2024-2025. Vậy nhiệm vụ đảm bảo an toàn về thể chất, tinh thần và vệ sinh an toàn thực phẩm cho các bé được đặt lên hàng đầu, nhà trường rất mong được kết hợp chặt chẽ với các bậc phụ huynh học sinh cùng chăm sóc các bé được an toàn, khỏe mạnh.
I. Nguyên tắc chung
- Giáo viên phối hợp với nhà trường và phụ huynh tạo cho trẻ một môi trường an toàn về sức khỏe, tâm lý và thân thể.
- Trẻ lứa tuổi mầm non phải luôn luôn được sự chăm sóc, trông coi của người có trách nhiệm. Phải thường xuyên theo dõi, bao quát trẻ mọi lúc mọi nơi.
- Giáo viên phải được tập huấn kiến thức và kĩ năng về phòng và xử trí ban đầu một số tai nạn thường gặp. Hằng năm, nhà trường cần phối hợp với y tế địa phương tập huấn, nhắc lại cho giáo viên về nội dung này.
- Khi trẻ bị tai nạn, phải bình tĩnh xử trí sơ cứu ban đầu tại chỗ, đồng thời báo cho cha mẹ và cơ sở y tế gần nhất để cấp cứu kịp thời cho trẻ.
- Giáo dục về an toàn cho trẻ: Dạy cho trẻ biết những đồ vật gây nguy hiểm, những hành động gây nguy hiểm và những nơi nguy hiểm trẻ không được đến gần.
- Giáo viên cần nhắc nhở và tuyên truyền cho phụ huynh: Thực hiện các biện pháp an toàn cho trẻ, đề phòng những tai nạn có thể xảy ra tại gia đình, khi cho trẻ đến trường hoặc đón trẻ từ trường về nhà.
II. Phòng tránh trẻ thất lạc và tai nạn
1. Đề phòng trẻ bị lạc
- Cô nhận trẻ trực tiếp từ tay cha mẹ trẻ.
- Đếm và kiểm tra trẻ nhiều lần trong ngày, chú ý những lúc đưa trẻ ra ngoài lớp trong các hoạt động ngoài trời hoặc tham quan. Bàn giao số trẻ khi giao ca.
- Cô phải ở lại lớp cho tới khi trả hết trẻ.
- Chỉ trả trẻ cho cha mẹ trẻ, cho người lớn được ủy quyền, không trả trẻ cho người lạ.
2. Đề phòng dị vật đường thở
- Không cho trẻ cầm các đồ chơi quá nhỏ có thể cho vào miệng, mũi.
- Khi cho trẻ ăn các quả có hạt, cần bóc bỏ hạt trước khi cho trẻ ăn.
- Giáo dục trẻ lớn khi ăn không được vừa ăn vừa đùa nghịch hoặc nói chuyện.
- Không ép trẻ ăn, uống khi trẻ đang khóc. Thận trọng khi cho trẻ uống thuốc, đặc biệt là các thuốc dạng viên.
- Giáo viên và người chăm sóc trẻ cần nắm vững cách phòng tránh dị vật đường thở cho trẻ và có một số kĩ năng đơn giản giúp trẻ loại dị vật đường thở ra ngoài.
Khi xảy ra trường hợp trẻ bị dị vật đường thở, cần bình tĩnh sơ cứu cho trẻ; đồng thời báo cho gia đình và đưa tới cơ sở y tế nơi gần nhất để cấp cứu cho trẻ.
3. Phòng tránh đuối nước
- Nếu có điều kiện nên dạy trẻ tập bơi sớm.
- Rào ao, các hố nước, kênh mương cạnh trường (hoặc lớp học).
- Không bao giờ được để trẻ ở một mình ở dưới nước hoặc gần nơi nguy hiểm. Nhắc nhở cha mẹ khi đưa trẻ đi đến trường và từ trường về nhà, nếu phải đi qua những nơi nguy hiểm (hồ, ao, kênh, rạch,…) phải luôn để mắt đến trẻ. Lớp học được tổ chức ở các bè nổi trên mặt nước phải có biện pháp bảo vệ tránh để trẻ ngã xuống nước.
- Tại các lớp học, không nên để trẻ một mình vào nơi chứa nước kể cả xô nước, chậu nước. Giám sát khi trẻ đi vệ sinh, khi trẻ chơi gần khu vực có chứa nguồn nước.
- Giếng nước, bể nước phải xây cao thành và có nắp đậy chắc chắn. Cần đậy nắp các dụng cụ chứa nước như chum, vại…
4. Phòng tránh cháy bỏng
- Kiểm tra thức ăn trước khi cho trẻ ăn, uống. Tránh cho trẻ ăn thức ăn, nước uống còn quá nóng.
- Không cho trẻ đến gần nơi đun bếp ga, bếp củi, nồi canh hoặc phích nước còn nóng.
- Không để trẻ nghịch diêm, bật lửa và các chất khác gây cháy bỏng. Để diêm, bật lửa, nến, đèn dầu, bàn là, vật nóng xa tầm với của trẻ hoặc nơi an toàn đối với trẻ. Giáo dục cho trẻ nhận biết đồ vật và nơi nguy hiểm.
Lưu ý: Không để trẻ đến gần ống xả của xe máy khi vừa dừng xe vì rất dễ gây bỏng.
5. Phòng tránh ngộ độc
- Không để bếp than tổ ong, bếp củi đang đun hoặc đang ủ gần nơi sinh hoạt của trẻ.
- Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Khi nghi ngờ thức ăn bị ôi thiu hoặc thức ăn có nhiều chất bảo quản, phụ gia (lạp xường, thịt nguội…), giáo viên báo cho nhà trường hoặc phụ huynh (nếu là thức ăn do gia đình mang tới) và không cho trẻ ăn.
- Không cho trẻ ăn thực phẩm không rõ nguồn gốc xuất xứ, quá hạn sử dụng, chứa phẩm màu,
- Thuốc chữa bệnh để trên cao, ngoài tầm với của trẻ.
- Không cho trẻ chơi đồ chơi có hóa chất: chai, lọ đựng thuốc, màu độc hại cho trẻ.
6. Phòng tránh điện giật
- Đặt ổ điện, bảng điện ngoài tầm với của trẻ. Luôn đậy nắp các ổ điện.
- Khi thiết bị điện bị hở mát, không được sử dụng và có biện pháp xử lí ngay.
- Giáo dục trẻ không được nghịch, chọc vào các ổ điện, không tự động cắm các đồ dùng bằng điện vào các ổ cắm.
7. Phòng tránh vết thương do các vật sắc nhọn
- Cất giữ vật dụng sắc nhọn xa tầm với của trẻ. Nếu trẻ lớn, có thể hướng dẫn trẻ sử dụng một cách an toàn.
- Loại bỏ các vật sắc nhọn bằng kim loại, mảnh thủy tinh, gốm, sắt,… khỏi nơi vui chơi của trẻ.
- Giải thích cho trẻ về sự nguy hiểm của các vật sắc nhọn khi chơi, đùa nghịch hay sinh hoạt.
8. Phòng tránh tai nạn giao thông
- Khi cho trẻ đi bộ: dắt trẻ đi trên vỉa hè, đi bộ đi bên tay phải để tạo thói quen cho trẻ.
- Tuyên truyền cho phụ huynh khi cho trẻ từ nhà đến lớp: Khi đưa đón trẻ bằng xe đạp, xe máy, cần để trẻ ngồi an toàn (tốt nhất khi đèo trẻ cần cho trẻ ngồi trong ghế hoặc dây đeo trẻ). Không để cho trẻ em dưới 15 tuổi đèo em đi học.
9. Phòng tránh động vật cắn: chó, mèo, rắn cắn, ong đốt,…
- Không cho trẻ đến gần hoặc trêu chó và mèo lạ. Xích hoặc đeo rọ mõm cho chó.
- Không để trẻ chơi gần các bụi rậm, nơi có tổ ong để đề phòng rắn cắn, ong đốt.
III. Xử trí ban đầu một số tai nạn
1. Dị vật đường thở
* Nhận biết:
Dị vật đường thở thường xảy ra đột ngột thường thấy các biểu hiện sau đây:
- Trẻ đang ăn, uống hoặc chơi đột ngột ho sặc sụa, thở rít, mặt đỏ, chảy nước mắt.
- Ngoài ra, trẻ khó thở dữ dội, mặt môi tím tái và có thể ngừng thở, nặng hơn là trẻ bị bất tỉnh, đái dầm.
* Cấp cứu
Khi trẻ bị dị vật đường thở, cần cấp cứu tại chỗ ngay lập tức; nếu không, trẻ sẽ bị ngạt thở, dẫn đến tử vong.
- Cách 1: Người cấp cứu ngồi trên ghế hoặc quỳ một chân vuông góc, đặt đầu trẻ trên đầu gối dốc xuống, một tay đỡ ngực trẻ, tay kia vỗ nhẹ 1-5 lần giữa hai xương bả vai.
- Cách 2: Đặt trẻ nằm sấp vắt ngang phần bụng sát cơ hoành lên một cẳng tay hoặc lên đùi người cấp cứu, tay kia vỗ giữa hai xương bả vai 1-5 lần.
- Nếu sơ cứu, dị vật bật ra và trẻ hết khó thở, cô cần theo dõi trẻ cho đến khi trẻ trở lại bình thường. Nếu trẻ không thở lại bình thường, hãy tiến hành làm hô hấp nhân tạo và chuyển ngay đến cơ sở y tế.
- Nếu dị vật không thoát ra được thì phải lấy ngón tay móc dị vật ra (hãy rất cẩn thận, đừng đẩy dị vật rơi sâu thêm vào họng trẻ)
- Nếu trẻ vẫn tiếp tục bị sặc sụa, hãy đặt trẻ ngồi vào lòng, một tay đỡ lấy lưng trẻ, tay kia nắm lại thành quả đấm, ngón cái nằm trong, ấn mạnh vào trong và lên trên ở điểm giữa rốn và mũi ức 4 lần.
Nếu vẫn không lấy được dị vật, hãy áp miệng mình vào miệng trẻ, thổi nhẹ để không khí lọt qua chỗ bị tắc. Đồng thời, nhanh chóng đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất để cấp cứu.
2. Điện giật
* Xử trí tại chỗ:
- Cứu trẻ thoát khỏi dòng điện bằng cách nhanh chóng ngắt cầu dao (hoặc rút cầu chì), dùng gậy gỗ (tre) khô đỡ dây điện khỏi cơ thể trẻ, hoặc kéo trẻ khỏi nguồn điện (tránh điện truyền sang người cứu, không được dùng tay không, phải đeo găng cao su hoặc quấn nilon, vải khô; chân đi guốc, dép khô hoặc đứng trên tấm ván khô)
3. Đuối nước
* Xử trí tại chỗ
- Vớt trẻ lên rồi cởi nhan quần áo ướt.
- Làm thông đường thở bằng cách dốc ngược đầu xuống thấp rồi lay mạnh, ép vào lồng ngực để tháo nước ở đường hô hấp ra ngoài. Sau đó, lau sạch miệng và tiến hành hô hấp nhân tạo (hà hơi thổi ngạt) xoa bóp tim ngoài lồng ngực (xem thực hành cách hà hơi thổi ngạt và xoa bóp tìm ngoài lồng ngực) cho đến khi trẻ thở lại, tim đập lại.
- Khi trẻ bắt đầu thở lại, tim đập lại, phải lau khô người, xoa dầu cho nóng toàn thân, quấn chăn ấm và chuyển ngay tới cơ sở y tế gần nhất.
Chú ý: Trong khi chuyển trẻ đến cơ sở y tế, vẫn phải theo dõi sát, nếu cần phải tiếp tục thổi ngạt và bóp tim ngoài lồng ngực.
4. Vết thương chảy máu
- Rửa vết thương bằng nước sôi để nguội.
- Bôi cồn sát trùng, băng lại, trường hợp vết thương rộng hay ở mặt nên đưa đến bệnh viện.
- Không rắc các loại thuốc bột, thuốc mỡ lên vết thương.
* Xử trí khi vết thương ở các mạch máu lớn
- Động mạch ở chi
Cầm máu tạm thời bằng băng ép tại chỗ.
Đặt garô: Dùng băng cao su mềm, mỏng, đàn hồi to bản (chiều rộng 3-5 cm, dài 1,2 đến 2m với chi trên hoặc 5-8cm, dài 2-3m với chi dưới) chặn trên đường đi của động mạch cách vết thương 2-3cm, phải lót vải mềm ở da trước khi quấn garô. Quấn garô vừa phải khi không còn máu chảy ra ở phía dưới là được.
Nếu không có garô (băng garô theo quy định), có thể dùng tạm khăn vải, dây buộc hoặc dùng tay ấn vào đường đi của động mạch.
Sau đó, băng vết thương lại để tránh nhiễm khuẩn.
Khi đặt garô xong, phải chuyển trẻ đến cơ sở y tế hoặc bệnh viện ngay.
* Tổn thương mạch nội tạng
- Băng ép vết thương phía ngoài.
- Chuyển trẻ đến cơ sở y tế, bệnh viện một cách nhanh nhất.
5. Rắn cắn
* Nhận biết:
- Chỉ sau vài phút bị rắn độc cắn, xung quanh vết cắn bị phù nề, tấy đỏ. Trẻ thấy nhức buốt chỗ cắn
- Sau 30 phút hay 1 giờ, trẻ vã mồ hôi, mặt tái nhợt, nôn ọe, ỉa chảy, mạch nhanh.
* Xử trí:
- Ngay sau khi bị rắn cắn, nên buộc ngay một garô lên phía trên vết cắn độ vài centimet.
- Rửa sạch và rạch rộng vết cắn, nếu có thể, làm ngay giác hút để hút máu lẫn nọc độc ra bớt, có thể rửa bằng dung dịch thuốc tím loãng.
- Chuyển gấp trẻ lên cơ sở y tế để tiêm huyết thanh chống nọc rắn.
6. Chó cắn
- Rửa ngay vết cắn bằng nước xà phòng rồi băng lại và chuyển trẻ đến cơ sở y tế có huyết thanh và vắc-xin phòng dại để điều trị càng sớm càng tốt.
- Tìm cách bắt nhốt con chó đã cắn và theo dõi trong vòng 10 ngày. Nếu thấy chó có những biểu hiện lạ như run rẩy, xù lông, hung dữ, thè lưỡi và dãi lòng thòng, tấn công đột ngột đồng loại hay người đến gần là biểu hiện chó dại.
7. Xử trí một số tai nạn khác
* Hóc xương:
- Nên mang đến bệnh viện.
- Không nên chữa mẹo hoặc moi tay vào cổ họng trẻ.
* Bỏng
- Loại trừ tác nhân gây bỏng. Rửa hoặc ngâm ngay vết thương bằng nước sạch để giảm độ nóng, tránh làm bẩn vết bỏng, giữ không để vỡ nốt phồng.
- Nếu bỏng nhẹ, diện tích da bị bỏng nhỏ có thể bôi dầu cá lên vết bỏng (nếu có), nốt phồng sẽ xẹp dần rồi khỏi.
- Nếu bỏng nặng phải đưa ngay trẻ đến cơ sở y tế.
* Gãy xương: Giữ chỗ xương gãy ở tư thế bất động bằng cách: dùng hai nẹp bằng gỗ hoặc thanh tre to bản, có chiều dài lớn hơn khoảng cách hai khớp lân cận, đặt sát vào hai bên xương gãy, rồi dùng cuộn băng hay miếng vải dài cuộn chặt hai miếng nẹp lại (suốt từ đầu này đến đầu kia của nẹp) và nhẹ nhàng đưa trẻ tới bệnh viện.
8. Hướng dẫn động tác hô hấp nhân tạo, xoa bóp tim ngoài lồng ngực
Nhiều tai nạn có thể dẫn đến ngạt thở, ngừng thở và tim ngừng đập. Khi trẻ bị tình trạng trên (có thể do hóc dị vật, chết đuối), cô cần bình tĩnh để xử lí cấp cứu ngay bằng cách: Làm thông đường thở, hà hơi thổi ngạt, bóp tim ngoài lồng ngực. Nếu được cấp cứu ngay và các động tác chính xác, trẻ có thể thở lại được. Nếu để muộn quá 5 phút, bộ não thiếu oxi sẽ có hồi phục được.
- Nếu có hai người thì một người thổi ngạt, người kia bóp tim
- Có thể phối hợp sau 1 lần thổi ngạt thì tiếp theo 5 lần xoa bóp tim.
- Nếu có một người thì tay phải bóp tim, tay trái giữ đầu trẻ ngửa ra sau để hà hơi.
- Kiểm tra nhịp thở:
Đặt trẻ nằm ngửa trên mặt phẳng vững chắc. Ghé tai gần miệng, mũi nghe hơi thở của trẻ. Nhìn lồng ngực xem có chuyển động không. Nếu không có dấu hiệu còn thở, phải hô hấp nhân tạo ngay, đồng thời, người khác phải gọi xe cấp cứu hoặc cán bộ y tế.
- Kiểm tra nhịp đập của tim
Làm thật nhanh trong vòng 5 giây, bằng cách: nghe nhịp đập của tim hoặc bắt mạch ở các mạch máu lớn. Nếu không thấy tim đập hoặc không bắt được mạch phải bóp tim ngoài lồng ngực ngay.
* Hô hấp nhân tạo:
- Nhanh chóng làm thông đường thở
Nới rộng quần áo, mở rộng miệng trẻ để lấy các vật lạ, đờm dãi ra khỏi miệng. Nếu trẻ nôn, lật trẻ nằm nghiêng và lau sạch chất nôn.
Đặt một bàn tay tay xuống dưới gáy, còn tay kia đặt ở trán làm cho đầu trẻ ngửa ra sau tối đa. Theo dõi xem trẻ có thể thở được không, nếu không, phải hà hơi thổi ngạt ngay cho trẻ.
- Hà hơi thổi ngạt: Sau khi đã làm thông đường thở, cô quỳ bên trái, ngang đầu trẻ. Cô hít vào một hơi dài, bịt 2 lỗ mũi trẻ và mở rộng miệng trẻ, sau đó áp miệng mình vào miệng trẻ, thổi nhẹ nhàng, rồi bỏ miệng mình ra để cho hơi thở ở lồng ngực trẻ thoát ra, lấy hơi thổi tiếp một lần nữa. Mỗi phút khoảng 20-25 lần, tiếp tục hà hơi cho đến khi trẻ thở được.
Chú ý:
- Quan sát khi thổi vào, lồng ngực trẻ phồng lên là được, nếu lồng ngực không nhô lên là có dị vật làm tắc khí quản và cần lấy dị vật ra (xem phần xử trí hóc dị vật) và móc lại miệng trẻ để cho hết đờm dãi.
- Thổi vừa phải, không thổi quá mạnh, vì như vậy sẽ làm rách phế nang, gây chảy máu.
- Đầu trẻ trong suốt thời gian này phải ngửa hết ra sau.
* Xoa bóp tim ngoài lồng ngực
- Trường hợp tim ngừng đập phải xoa bóp tim
Đặt trẻ nằm ngửa trên nền cứng (giường hoặc ván)
Xác định vị trí để bóp tim: điểm giữa của mũi ức với phần đáy của cổ.
- Bóp tim ngoài lồng ngực
Dùng gót bàn tay ấn sâu 2,5-3 cm rồi thả ra, nhịp 3 lần/2 giây (mỗi lần ép, cô đếm từ 1 đến 5). Chỉ ép lồng ngực sau một động tác thổi ngạt và xoa bóp tim, thấy trẻ hồi tỉnh dần lại là tốt. Tiếp tục làm như vậy cho đến khi tim đập đều và trẻ thở được.
Chú ý: Khi ấn xương ức xuống nên làm vừa phải, nếu mạnh quá dễ gãy xương, nếu nhẹ quá thì không có kết quả.
Mong các bậc phụ huynh quan tâm kết hợp cô giáo để đảm bảo an toàn cho các bé trong cả năm học./.